By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
HSV Logo Carré HSV Logo Carré
Thứ Tư, Th3 4, 2026
  • What's Hot:
  • Sài Gòn
  • Bộ Sưu Tập Ảnh
  • Sài Gòn
  • Thời Pháp Thuộc
  • Cuộc Sống Đời Thường
  • Kiến Trúc
  • Home
  • Huế
    HuếXem thêm
    Huế 1968 sinh viên Đại Học Huế tiễn đưa cố giáo sư người Đức bị việt cộng tàn sát
    Huế 1968 sinh viên Đại Học Huế tiễn đưa cố giáo sư người Đức bị việt cộng tàn sát
    11 Tháng 4, 2025
  • Sài Gòn
    Sài GònXem thêm
    Việt Nam Cộng Hòa (1955–1960): Năm năm vàng son của một quốc gia non trẻ
    Việt Nam Cộng Hòa (1955–1960): Năm năm vàng son của một quốc gia non trẻ
    5 Tháng 1, 2026
    Mậu Thân 1968, đồng bào Đô Thành Sài Gòn tản cư tránh Việt Cộng
    Mậu Thân 1968, đồng bào Đô Thành Sài Gòn tản cư tránh Việt Cộng
    5 Tháng 1, 2026
    Garage Charner, một biểu tượng của Sài Gòn thời Pháp thuộc
    Garage Charner, một biểu tượng của Sài Gòn thời Pháp thuộc
    25 Tháng 3, 2025
    Áo dài nữ sinh Trường Trưng Vương: di sản văn hóa giáo dục miền nam Việt Nam
    Áo dài nữ sinh Trường Trưng Vương: di sản văn hóa giáo dục miền nam Việt Nam
    23 Tháng 3, 2025
    Chợ Bến Thành vào năm 1938
    Chợ Bến Thành vào năm 1938
    23 Tháng 3, 2025
  • Hà Nội
    Hà NộiXem thêm
    Tứ Đại Mỹ Nhân Hà Thành
    Tứ Đại Mỹ Nhân Hà Thành
    8 Tháng 2, 2025
    Hồ Gươm, tháng 7 năm 1948
    Hồ Gươm, tháng 7 năm 1948
    5 Tháng 12, 2024
  • Âm Nhạc & Điện Ảnh
    Âm Nhạc & Điện ẢnhXem thêm
    Danh cầm Ba Tu – “Đệ nhất nguyệt cầm” và tâm tấu bậc thầy của đờn ca tài tử Nam Bộ
    Danh cầm Ba Tu – “Đệ nhất nguyệt cầm” và tâm tấu bậc thầy của đờn ca tài tử Nam Bộ
    8 Tháng 1, 2026
    Nghĩ Về Nghệ Thuật của Thái Thanh
    Nghĩ về nghệ thuật của Thái Thanh
    5 Tháng 1, 2026
    “Bến Xuân” Một Tình yêu – Một Đời Người
    “Bến Xuân” Một Tình yêu – Một Đời Người
    19 Tháng 4, 2025
    Trịnh Công Sơn Với “Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ”
    Trịnh Công Sơn Với “Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ”
    19 Tháng 4, 2025
    Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tuyên – Người ca sỹ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam
    Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tuyên – Người ca sỹ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam
    13 Tháng 4, 2025
  • Văn Hoá
    Văn HoáXem thêm
    Di tích Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
    Di tích Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
    5 Tháng 1, 2026
  • Các Miền
    Các MiềnXem thêm
    Nhà cổ Bình Thủy – Viên ngọc kiến trúc Pháp giữa lòng Cần Thơ
    Nhà cổ Bình Thủy – Viên ngọc kiến trúc Pháp giữa lòng Cần Thơ
    7 Tháng 1, 2026
Reading: Việt Nam Cộng Hòa (1955–1960): Năm năm vàng son của một quốc gia non trẻ
Newsletter
Font ResizerAa
honsuviet.comhonsuviet.com
  • Home
  • Huế
  • Sài Gòn
  • Hà Nội
Search
  • Trang Chủ
  • Huế
  • Sài Gòn
  • Hà Nội
  • Âm Nhạc & Điện Ảnh
  • Văn Hoá
  • Contact

Trending →

Danh cầm Ba Tu – “Đệ nhất nguyệt cầm” và tâm tấu bậc thầy của đờn ca tài tử Nam Bộ

Đăng bởi Duc
8 Tháng 1, 2026

Nhà cổ Bình Thủy – Viên ngọc kiến trúc Pháp giữa lòng Cần Thơ

Đăng bởi Duc
7 Tháng 1, 2026

Việt Nam Cộng Hòa (1955–1960): Năm năm vàng son của một quốc gia non trẻ

Đăng bởi Duc
5 Tháng 1, 2026

Nghĩ về nghệ thuật của Thái Thanh

Đăng bởi Duc
5 Tháng 1, 2026

Di tích Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu

Đăng bởi Duc
5 Tháng 1, 2026
Follow US
© Foxiz News Network. Ruby Design Company. All Rights Reserved.
Sài Gòn

Việt Nam Cộng Hòa (1955–1960): Năm năm vàng son của một quốc gia non trẻ

1955–1960 không chỉ là ký ức hoài niệm, mà là giai đoạn đặt nền móng phát triển cho Việt Nam Cộng Hòa trong hòa bình.

Đăng bởi Duc
5 Tháng 1, 2026
25 lượt xem
25 phút đọc
2
Chia sẽ
25 phút đọc
Việt Nam Cộng Hòa (1955–1960): Năm năm vàng son của một quốc gia non trẻ
Bưu điện Sài Gòn
Chia sẽ

Giai đoạn 1955–1960 được xem là năm năm vàng son của Việt Nam Cộng Hòa – một thời kỳ hiếm hoi hòa bình, tái thiết và phát triển toàn diện. Từ cải cách điền địa, phục hồi nông nghiệp, mở rộng giáo dục đến xây dựng hạ tầng quốc gia, miền Nam Việt Nam đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một mô hình phát triển hiện đại, từng được giới quan sát quốc tế đánh giá cao.

📌 Toàn cảnh nhanh
🗓️ Thời gian: 1955–1960 – 5 năm đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa
👥 Dân số: Gần 1 triệu người di cư từ miền Bắc được tái định cư
🌾 Nông nghiệp: Sản lượng lúa đạt 5,3 triệu tấn (1959), cao nhất lịch sử thời điểm đó
🚜 Cải cách điền địa: Giới hạn địa tô, bảo vệ tá điền, mở đường sở hữu đất
🏗️ Hạ tầng: 9.000 dặm đường bộ, 870 dặm đường sắt, mạng lưới hàng không quốc gia
🎓 Giáo dục: 1,2 triệu học sinh tiểu học, hình thành các đại học đầu tiên
🌍 Quốc tế: Được Hoa Kỳ và đồng minh đánh giá là mô hình phát triển đầy triển vọng

Từ cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.

May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam.

Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang.

Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.

Bối cảnh hậu chiến và điểm xuất phát của Việt Nam Cộng Hòa

Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn.

Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể.

Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.

Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.

Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.

May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực.

Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.

Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.

Đọc thêm

Nhà cổ Bình Thủy – Viên ngọc kiến trúc Pháp giữa lòng Cần Thơ
Nhà cổ Bình Thủy – Viên ngọc kiến trúc Pháp giữa lòng Cần Thơ
Di tích Mộ và Khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
Huế 1968 sinh viên Đại Học Huế tiễn đưa cố giáo sư người Đức bị việt cộng tàn sát
Mậu Thân 1968, đồng bào Đô Thành Sài Gòn tản cư tránh Việt Cộng
Garage Charner, một biểu tượng của Sài Gòn thời Pháp thuộc

Bài toán định cư gần một triệu người di cư từ miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam.

Đoàn người này hoàn toàn “tay trắng” – chúng tôi gọi là đoàn người ‘bốn không’: không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.

Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em?

Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:

“Thưa Tổng thống,

Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại.”

Phục hồi và hiện đại hóa nông nghiệp miền Nam

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn.

Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4,2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2,5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520.000 tấn.

Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2,5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác.

Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.

Cải cách điền địa: Thách thức cấu trúc và kết quả thực tế

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng.

‘Đất Nước tôi’: đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng.

Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.

Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất.

Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2,5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất.

Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền.

Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.

Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5,3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340.000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Chiến lược phát triển công nghiệp và chủ quyền kinh tế

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện.

Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.

Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa – Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.

Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch.

Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam.

Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.

Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng giao thông: Xương sống của tăng trưởng

Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội.

Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.

Đường bộ: trong khoảng 9.000 dặm đường, có hơn 2.000 dặm là bê tông nhựa; 3.000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4.000 dặm là đường hương lộ.

Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh).

Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.

Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc.

Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.

Ngân hàng, tiền tệ và nền tảng tài chính quốc gia

Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa.

Ngay từ tháng 1/1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục – đầu tư dài hạn cho một quốc gia mới

Việt Nam Cộng Hòa (1955–1960): Năm năm vàng son của một quốc gia non trẻ

Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.

Tiểu học: 1960, đã có tới 4.266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1.200.000.

Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1.200 lên tới 5.000.

Đại học: trước năm 1954, Miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955, chính thức thành lập đại học Sài Gòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12.000.

Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam.

Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 Tổng thống Eisenhower viết cho TT Diệm:

“Kính thưa Tổng Thống,

Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1.200.000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập.“

Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển.

Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến.

Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt.

Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.

Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.

Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc – dù là tát cạn cả Biển Đông – cũng đều có thể ước mơ.

Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng là rất đáng kể so với các nước láng giềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.

1955–1960: Giai đoạn bản lề trong lịch sử Việt Nam Cộng Hòa

Miền Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên – kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-off) để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.

Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa (“The First Day“) thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị mất đi” (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.

Bài viết của Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, trích dẫn từ cuốn sách “Khi Đồng Minh Nhảy Vào” mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốn “Khi Đồng minh Tháo chạy” và là đồng tác giả cuốn “The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập”, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh.

Nguyễn Tiến Hưng
Vai trò,Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Virginia, Hoa Kỳ

TAGGED:Kinh TếLịch SửMiền NamNgô Đình DiệmSài GònThập niên 50Thập niên 60Văn hóa giáo dụcViệt Nam Cộng Hòa
Share This Article
Facebook Copy Link
Cảm nhận của bạn về bài viết:
Love1
Sad0
Happy0
Sleepy0
Angry0
Surprise0
0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Đăng nhập
Thông báo của
guest
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Những bài đọc về Sài Gòn được yêu chuộn nhất

Hộ pháp đạo Cao Đài Phạm Công Tắc
Hộ pháp đạo Cao Đài Phạm Công Tắc
Sài Gòn
Bộ Sưu Tập Ảnh Cuộc Sống Đời Thường Đời Sống Tín Ngưỡng Sài Gòn Thập niên 40 Thời Pháp Thuộc
Những chú bé bán bông bống trên đường Catinat
Những chú bé bán bông bống trên đường Catinat
Sài Gòn
Bộ Sưu Tập Ảnh Cuộc Sống Đời Thường Sài Gòn Thập niên 40 Thời Pháp Thuộc
Nhà thờ Đức Bà năm 1930
Nhà thờ Đức Bà năm 1930
Sài Gòn
Bộ Sưu Tập Ảnh Cuộc Sống Đời Thường Sài Gòn Thập niên 30 Thời Pháp Thuộc

Bạn cũng có thể đọc thêm ↷

Áo dài nữ sinh Trường Trưng Vương: di sản văn hóa giáo dục miền nam Việt Nam

Áo dài nữ sinh Trường Trưng Vương: di sản văn hóa giáo dục miền nam Việt Nam

23 Tháng 3, 2025
Chợ Bến Thành vào năm 1938

Chợ Bến Thành vào năm 1938

23 Tháng 3, 2025
Khách sạn Continental Palace vào năm 1950

Khách sạn Continental Palace vào năm 1950

22 Tháng 3, 2025
Nam Phương Hoàng Hậu tương lai

Nam Phương Hoàng Hậu tương lai

2 Tháng 3, 2025
  • Advertise with us
  • Newsletters
  • Complaint
  • Deal

Hồn Sử Việt – Nơi khám phá và tìm hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam phong phú trước năm 1975. Kho tàng kiến thức quý giá về di sản, truyền thống và bản sắc dân tộc Việt Nam qua dòng thời gian.

HSV Logo Carré
  • Home
  • Huế
  • Sài Gòn
  • Hà Nội
  • Âm Nhạc & Điện Ảnh
  • Văn Hoá
  • Các Miền
393.9KFollowersLike
34.3KFollowersFollow
4.4MSubscribersSubscribe
30.4KFollowersFollow

Hồn Sử Việt – © 2024 All right reserved

wpDiscuz